background img

Sinh con và Chăm sóc em bé

Showing posts with label lactose. Show all posts
Showing posts with label lactose. Show all posts
1. Không cho con uống sữa lúc đói

Trong lúc chưa chuẩn bị kịp bữa ăn cho con, chúng ta xoa dịu cho con bằng một cốc sữa lót dạ, nhưng khi bé quá đói, việc bạn đưa một lượng sữa lớn và dạ dày sẽ làm dạ dày co bóp mạnh. Dịch vị tiết ra sẽ đào thải nhanh calci xuống ruột và bài tiết ra ngoài. Hơn nữa, cơ thể bé lúc này sẽ cảm thấy mệt mỏi và buồn ngủ, cản trở các hoạt động vui chơi có lợi cho tiêu hóa.



Thời điểm cho con uống sữa vào cuối bữa ăn, hoặc sử dụng sữa như một bữa ăn phụ cho con trong ngày lúc bé chưa quá đói.

2. Không thêm sô - cô - la vào sữa

Nhiều nghiên cứu khoa học chỉ ra nếu trộn sữa với sôcôla, con sẽ chẳng thể hấp thụ calci có trong sữa vì calci phản ứng hóa học với oxalate trong sôcôla, tạo thành hợp chất calci oxalate không hề có lợi cho con. Không những thế, dùng thức uống này nhiều sẽ gây khô tóc, tiêu chảy và những phản ứng khác ngoài mong muốn của bé.

3. Không cho nhiều đường vào sữa

Thông thường 100ml sữa thêm 5 - 8g đường nhưng một số bé thích uống sữa ngọt một chút nên khi pha sữa chúng ta thêm một ít đường. Tuy nhiên, quá nhiều đường dự trữ trong cơ thể ngoài nhân tố nguy hiểm gây ra các bệnh như: xơ cứng động mạch, cận thị, sâu răng thì chất lysine có trong sữa sẽ phản ứng với đường khi đun nóng, tạo thành chất không có lợi cho cơ thể của bé. Do vậy bạn nên cho đường vào sữa ấm hoặc đã được để nguội là tốt nhất, nhiệt độ lý tưởng dao động từ 30 - 700C.

4. Không kết hợp sữa và cháo

Nhiều phụ huynh thực hiện chiến lược tăng cân cho con bằng thực đơn cho bé với cháo và sữa. Nhưng sữa có nhiều vitamin A, còn trong nước cơm và cháo thành phần chủ yếu là tinh bột. Khi kết hợp với nhau vitamin A sẽ bị triệt tiêu. Đối với trẻ nhỏ, nhất là trẻ sơ sinh, thiếu vitamin A rất dễ gây suy nhược cơ thể, trí não chậm phát triển kỹ năng. Bạn nên đợi vài tiếng sau khi bé ăn cháo mới tiếp tục cho con uống sữa để cơ thể bé hấp thụ trọn vẹn các dưỡng chất từ hai nguồn thức ăn.

5. Không pha sữa quá đặc

Nhiều bà mẹ nghĩ rằng uống sữa càng đặc, con mình càng hấp thụ được nhiều dinh dưỡng nên tăng giảm liều lượng tùy thích. Kỳ thực, độ đậm đặc của sữa phụ thuộc vào độ tuổi của bé. Trẻ sơ sinh nếu dùng sữa quá đặc, lâu ngày sẽ dẫn đến cách bệnh đau dạ dày, kiết lỵ, ăn không ngon… Lý do là vì sữa càng đặc thì độ dinh dưỡng càng cao trong khi các cơ quan nội tạng của trẻ còn rất yếu, chưa thể hấp thụ được một lượng thức ăn quá lớn cùng một lúc.

Ngoài ra, các mẹ nên lưu ý nhiều bé mắc chứng bất dung nạp lactose, là tình trạng cơ thể thiếu men Lactase để tiêu hóa đường Lactose có trong sữa mẹ và các sữa công thức. Lactose là nguồn cung cấp đường glucose cho sự hoạt động của não và cơ thể, làm phân mềm, tạo sự vượt trội của những vi khuẩn có lợi giúp cho sự phát triển hệ miễn dịch và tiêu hoá trong cơ thể trẻ. Men lactase ở màng ruột là men tiêu hoá biến đường lactose trở thành đường glucose.

Các bà mẹ có thể nhận biết được bất dung nạp đường Lactose khi cho trẻ uống sữa bị đau bụng, đầy hơi, không muốn ăn, quấy khóc, tiêu chảy tăng lên, phân lỏng toàn nước chua hoặc có bọt, hậu môn đỏ. Khi cho trẻ ăn sữa không có lactose, các triệu chứng trên giảm rõ rệt, tiêu chảy cầm, phân đặc và giảm độ chua, trẻ chịu ăn và mau chóng khỏi tiêu chảy.

Những điều cần tránh khi cho con uống sữa

1. Không cho con uống sữa lúc đói

Trong lúc chưa chuẩn bị kịp bữa ăn cho con, chúng ta xoa dịu cho con bằng một cốc sữa lót dạ, nhưng khi bé quá đói, việc bạn đưa một lượng sữa lớn và dạ dày sẽ làm dạ dày co bóp mạnh. Dịch vị tiết ra sẽ đào thải nhanh calci xuống ruột và bài tiết ra ngoài. Hơn nữa, cơ thể bé lúc này sẽ cảm thấy mệt mỏi và buồn ngủ, cản trở các hoạt động vui chơi có lợi cho tiêu hóa.



Thời điểm cho con uống sữa vào cuối bữa ăn, hoặc sử dụng sữa như một bữa ăn phụ cho con trong ngày lúc bé chưa quá đói.

2. Không thêm sô - cô - la vào sữa

Nhiều nghiên cứu khoa học chỉ ra nếu trộn sữa với sôcôla, con sẽ chẳng thể hấp thụ calci có trong sữa vì calci phản ứng hóa học với oxalate trong sôcôla, tạo thành hợp chất calci oxalate không hề có lợi cho con. Không những thế, dùng thức uống này nhiều sẽ gây khô tóc, tiêu chảy và những phản ứng khác ngoài mong muốn của bé.

3. Không cho nhiều đường vào sữa

Thông thường 100ml sữa thêm 5 - 8g đường nhưng một số bé thích uống sữa ngọt một chút nên khi pha sữa chúng ta thêm một ít đường. Tuy nhiên, quá nhiều đường dự trữ trong cơ thể ngoài nhân tố nguy hiểm gây ra các bệnh như: xơ cứng động mạch, cận thị, sâu răng thì chất lysine có trong sữa sẽ phản ứng với đường khi đun nóng, tạo thành chất không có lợi cho cơ thể của bé. Do vậy bạn nên cho đường vào sữa ấm hoặc đã được để nguội là tốt nhất, nhiệt độ lý tưởng dao động từ 30 - 700C.

4. Không kết hợp sữa và cháo

Nhiều phụ huynh thực hiện chiến lược tăng cân cho con bằng thực đơn cho bé với cháo và sữa. Nhưng sữa có nhiều vitamin A, còn trong nước cơm và cháo thành phần chủ yếu là tinh bột. Khi kết hợp với nhau vitamin A sẽ bị triệt tiêu. Đối với trẻ nhỏ, nhất là trẻ sơ sinh, thiếu vitamin A rất dễ gây suy nhược cơ thể, trí não chậm phát triển kỹ năng. Bạn nên đợi vài tiếng sau khi bé ăn cháo mới tiếp tục cho con uống sữa để cơ thể bé hấp thụ trọn vẹn các dưỡng chất từ hai nguồn thức ăn.

5. Không pha sữa quá đặc

Nhiều bà mẹ nghĩ rằng uống sữa càng đặc, con mình càng hấp thụ được nhiều dinh dưỡng nên tăng giảm liều lượng tùy thích. Kỳ thực, độ đậm đặc của sữa phụ thuộc vào độ tuổi của bé. Trẻ sơ sinh nếu dùng sữa quá đặc, lâu ngày sẽ dẫn đến cách bệnh đau dạ dày, kiết lỵ, ăn không ngon… Lý do là vì sữa càng đặc thì độ dinh dưỡng càng cao trong khi các cơ quan nội tạng của trẻ còn rất yếu, chưa thể hấp thụ được một lượng thức ăn quá lớn cùng một lúc.

Ngoài ra, các mẹ nên lưu ý nhiều bé mắc chứng bất dung nạp lactose, là tình trạng cơ thể thiếu men Lactase để tiêu hóa đường Lactose có trong sữa mẹ và các sữa công thức. Lactose là nguồn cung cấp đường glucose cho sự hoạt động của não và cơ thể, làm phân mềm, tạo sự vượt trội của những vi khuẩn có lợi giúp cho sự phát triển hệ miễn dịch và tiêu hoá trong cơ thể trẻ. Men lactase ở màng ruột là men tiêu hoá biến đường lactose trở thành đường glucose.

Các bà mẹ có thể nhận biết được bất dung nạp đường Lactose khi cho trẻ uống sữa bị đau bụng, đầy hơi, không muốn ăn, quấy khóc, tiêu chảy tăng lên, phân lỏng toàn nước chua hoặc có bọt, hậu môn đỏ. Khi cho trẻ ăn sữa không có lactose, các triệu chứng trên giảm rõ rệt, tiêu chảy cầm, phân đặc và giảm độ chua, trẻ chịu ăn và mau chóng khỏi tiêu chảy.

Hỏi: Tôi có nghe nói một số chất giúp trẻ tăng trưởng chiều cao như: Lysin, ma-giê, kẽm, các vitamin A, D, canxi, Iốt. Tuy nhiên, tôi không hiểu mỗi chất như vậy có ý nghĩa như thế nào? Nó có trong những thực phẩm cụ thể nào?

Đáp: Đúng là những dưỡng chất mà bạn kể trên đã được khoa học chứng minh là có liên quan đến sự tăng trưởng chiều cao của trẻ.
-Lysin: là một acid amin thiết yếu giúp cơ thể hấp thu tốt canxi, tạo sự ngon miệng, là nguyên liệu để cơ thể tổng hợp collagen, giúp chất béo chuyển hóa thành năng lượng, tăng cường hệ miễn dịch. Các thực phẩm giàu lysine là: thịt, cá, lòng đỏ trứng, các loại đậu, sữa và các chế phẩm của sữa.



-Ma-giê: là khoáng chất cần thiết cho sự tạo xương, răng, cho hoạt động co cơ, dẫn truyền các xung động thần kinh; trong cơ thể người bình thường có khoảng 35g ma-giê, tập trung chủ yếu trong xương và răng. Ma-giê có nhiều trong các loại rau: ngót, dền, mồng tơi, đay, rau lang, khoai lang, đậu phụng; trong cá ngừ, cá nục, tôm đồng, sò. Sữa và các chế phẩm từ sữa không có nhiều ma-giê. Vitamin D giúp hấp thu tốt ma -giê từ thực phẩm.

-Kẽm: là yếu tố xúc tác cho trên 70 enzyme, cần cho sự phân chia tế bào (giúp thúc đẩy sự tăng trưởng); giúp mau lành vết thương. Nguồn thực phẩm giàu kẽm là: thịt, trứng, cá, gan, hàu, sò.

-I ốt: là thành phần của nội tiết tố (hóc môn tuyến giáp). Hóc môn giáp là một trong những hóa môn giữ vai trò thúc đẩy sự tăng trưởng của cơ thể. I ốt có nhiều trong cá biển, rong biển và muối I ốt.

-Vitamin A: giúp xương tăng trưởng và còn ảnh hưởng đến sự biệt hóa của da và niêm mạc. Dưỡng chất này có trong rất nhiều loại thực phẩm khác nhau: Bơ, phô mai, trứng, sữa, gan, rau xanh, cà rốt, bí đỏ.

-Canxi: là thành phần chính trong cấu trúc xương và răng (99% tổng lượng canxi trong cơ thể). Nó tham gia các tiến trình chuyển hóa: Hoạt động của enzyme, dẫn truyền thần kinh, chức năng của hóc môn, sự co cơ, đông máu, vận chuyển qua màng tế bào. Nguồn thực phẩm giàu canxi là sữa và các chế phẩm từ sữa, vỏ sò, lòng đỏ trứng, cá trích, những loại cá con ăn được cả xương. Một số yếu tố hỗ trợ hấp thu canxi: Vitamin D, Lysin, Lactose, Arginin…
Các sản phẩm như sữa và phô mai là thực phẩm cần tránh khi bị đau bụng. Hơn một nửa dân số thế giới khi sinh ra đã thiếu loại enzyme lactase cần thiết để phân giải đường lactose (một thành phần luôn có trong sữa). Cho dù cơ thể bạn có sẵn lactase thì sự nhiễm khuẩn cũng có thể ảnh hưởng đến loại enzyme này. Điều đó khiến cho khả năng tiêu hóa lactose của cơ thể bạn mất đi tạm thời hoặc vĩnh viễn, gây chứng uống sữa bị đau bụng, đầy hơi, tiêu chảy.

-Vitamin D: có chức năng điều hòa canxi và phốt pho trong đường ruột, tăng tái hấp thu canxi ở thận, tăng cường tổng hợp protein chuyên chở canxi và phốt pho trong tế bào ruột. Vitamin D có nhiều trong bơ, sữa, phô mai, trứng, gan gà, tôm, dầu gan cá thu. Da có thể tự tổng hợp vitamin D khi tiếp xúc trực tiếp với ánh nắng. Nên tắm nắng khoảng 15-20 phút/ngày ở cường độ nắng nhẹ và da tiếp xúc trực tiếp với ánh nắng càng nhiều càng tốt.

Để được tăng trưởng chiều cao liên tục, trẻ cần nhận đủ năng lượng cần thiết cho cơ thể mỗi ngày, kèm theo ngủ đủ giấc, vận động thường xuyên, ít bệnh tật. Một chế độ chăm sóc bé hợp lý sẽ giúp bé phát triển thể chất và phát triển kỹ năng toàn diện!

Dưỡng chất giúp bé tăng chiều cao

Hỏi: Tôi có nghe nói một số chất giúp trẻ tăng trưởng chiều cao như: Lysin, ma-giê, kẽm, các vitamin A, D, canxi, Iốt. Tuy nhiên, tôi không hiểu mỗi chất như vậy có ý nghĩa như thế nào? Nó có trong những thực phẩm cụ thể nào?

Đáp: Đúng là những dưỡng chất mà bạn kể trên đã được khoa học chứng minh là có liên quan đến sự tăng trưởng chiều cao của trẻ.
-Lysin: là một acid amin thiết yếu giúp cơ thể hấp thu tốt canxi, tạo sự ngon miệng, là nguyên liệu để cơ thể tổng hợp collagen, giúp chất béo chuyển hóa thành năng lượng, tăng cường hệ miễn dịch. Các thực phẩm giàu lysine là: thịt, cá, lòng đỏ trứng, các loại đậu, sữa và các chế phẩm của sữa.



-Ma-giê: là khoáng chất cần thiết cho sự tạo xương, răng, cho hoạt động co cơ, dẫn truyền các xung động thần kinh; trong cơ thể người bình thường có khoảng 35g ma-giê, tập trung chủ yếu trong xương và răng. Ma-giê có nhiều trong các loại rau: ngót, dền, mồng tơi, đay, rau lang, khoai lang, đậu phụng; trong cá ngừ, cá nục, tôm đồng, sò. Sữa và các chế phẩm từ sữa không có nhiều ma-giê. Vitamin D giúp hấp thu tốt ma -giê từ thực phẩm.

-Kẽm: là yếu tố xúc tác cho trên 70 enzyme, cần cho sự phân chia tế bào (giúp thúc đẩy sự tăng trưởng); giúp mau lành vết thương. Nguồn thực phẩm giàu kẽm là: thịt, trứng, cá, gan, hàu, sò.

-I ốt: là thành phần của nội tiết tố (hóc môn tuyến giáp). Hóc môn giáp là một trong những hóa môn giữ vai trò thúc đẩy sự tăng trưởng của cơ thể. I ốt có nhiều trong cá biển, rong biển và muối I ốt.

-Vitamin A: giúp xương tăng trưởng và còn ảnh hưởng đến sự biệt hóa của da và niêm mạc. Dưỡng chất này có trong rất nhiều loại thực phẩm khác nhau: Bơ, phô mai, trứng, sữa, gan, rau xanh, cà rốt, bí đỏ.

-Canxi: là thành phần chính trong cấu trúc xương và răng (99% tổng lượng canxi trong cơ thể). Nó tham gia các tiến trình chuyển hóa: Hoạt động của enzyme, dẫn truyền thần kinh, chức năng của hóc môn, sự co cơ, đông máu, vận chuyển qua màng tế bào. Nguồn thực phẩm giàu canxi là sữa và các chế phẩm từ sữa, vỏ sò, lòng đỏ trứng, cá trích, những loại cá con ăn được cả xương. Một số yếu tố hỗ trợ hấp thu canxi: Vitamin D, Lysin, Lactose, Arginin…
Các sản phẩm như sữa và phô mai là thực phẩm cần tránh khi bị đau bụng. Hơn một nửa dân số thế giới khi sinh ra đã thiếu loại enzyme lactase cần thiết để phân giải đường lactose (một thành phần luôn có trong sữa). Cho dù cơ thể bạn có sẵn lactase thì sự nhiễm khuẩn cũng có thể ảnh hưởng đến loại enzyme này. Điều đó khiến cho khả năng tiêu hóa lactose của cơ thể bạn mất đi tạm thời hoặc vĩnh viễn, gây chứng uống sữa bị đau bụng, đầy hơi, tiêu chảy.

-Vitamin D: có chức năng điều hòa canxi và phốt pho trong đường ruột, tăng tái hấp thu canxi ở thận, tăng cường tổng hợp protein chuyên chở canxi và phốt pho trong tế bào ruột. Vitamin D có nhiều trong bơ, sữa, phô mai, trứng, gan gà, tôm, dầu gan cá thu. Da có thể tự tổng hợp vitamin D khi tiếp xúc trực tiếp với ánh nắng. Nên tắm nắng khoảng 15-20 phút/ngày ở cường độ nắng nhẹ và da tiếp xúc trực tiếp với ánh nắng càng nhiều càng tốt.

Để được tăng trưởng chiều cao liên tục, trẻ cần nhận đủ năng lượng cần thiết cho cơ thể mỗi ngày, kèm theo ngủ đủ giấc, vận động thường xuyên, ít bệnh tật. Một chế độ chăm sóc bé hợp lý sẽ giúp bé phát triển thể chất và phát triển kỹ năng toàn diện!


1. Uống si rô ho không xúc miệng

Một số bà mẹ sau khi cho con uống si rô ho vào buổi tối trước khi đi ngủ (để con không bị ho vào buổi đêm) thường không cho con uống nước hoặc xúc miệng do sợ làm pha loãng thuốc, làm giảm hiệu quả chữa trị của thuốc. Cách làm này không đúng vì trong phần lớn các si rô ho dành cho trẻ em đều chứa một lượng đường nhất định, nếu uống si rô trong thời gian dài sẽ tích lũy đường trong răng bé và gây ra sâu răng. Vì vậy, cho dù là thuốc thì sau khi uống si rô ho, các mẹ vẫn phải cho con vệ sinh răng như bình thường.



2. Ăn thức ăn nóng, lạnh liền nhau

Thông thường các bé thường được mẹ cho ăn cháo, cơm nóng hoặc uống sữa ấm sau đó tráng miệng bằng sữa chua, trái cây… (thường được trữ trong tủ lạnh). Việc ăn xen kẽ thức ăn nóng, lạnh như vậy thực sự rất có hại cho răng, trong một số trường hợp trẻ còn cảm thấy đau răng ngay sau khi ăn.

Các mẹ cần biết rằng, nhất là răng sữa đặc biệt nhạy cảm với sự thay đổi nhiệt độ nóng – lạnh. Bởi vậy, đau răng do nguyên nhân này lâu ngày có thể dẫn đến viêm tủy răng và một số bệnh về răng khác.

3. Uống sữa, nước hoa quả trước khi đi ngủ

Trong sữa có lactose, trong nước hoa quả có dư lượng đường cao nên nếu uống trước khi đi ngủ sẽ khiến vi khuẩn đường miệng dễ dàng xâm nhập và làm tổn thương răng. Vì vậy, các mẹ phải chắc chắn bé được đánh răng và súc miệng bằng nước diệt khuẩn sau mỗi lần uống sữa hay nước hoa quả trước khi ngủ. Với các bé sơ sinh, mẹ phải vệ sinh lợi và khoang miệng của bé thật cẩn thận sau khi cho bé bú cữ buổi tối. Tuy vậy, theo các chuyên gia chăm sóc răng miệng trẻ em, cách tốt nhất là các mẹ tập cho con bỏ dần thói quen uống sữa, nước hoa quả trước khi đi ngủ.

Theo ước tính, có hơn một nửa dân số thế giới khi sinh ra đã thiếu loại enzyme lactase cần thiết để phân giải đường lactose (một thành phần luôn có trong sữa). Điều đó khiến cho khả năng tiêu hóa lactose của cơ thể bạn mất đi tạm thời hoặc vĩnh viễn, gây chứng uống sữa bị đau bụng, đầy hơi, tiêu chảy.

4. Dùng răng mở nắp chai, xé bao bì

Mở nắp chai, xé bao bì, cắn chỉ khâu… hoặc cắn đồ vật cứng, nhọn sẽ tạo nên các vết nứt sâu trên răng, thậm chí có thể gây sứt hoặc mẻ răng. Ngoài ra, khi bé dùng răng để làm những việc như thế này sẽ khiến răng tiếp xúc với vi khuẩn trên miệng chai, bao bì, đồ vật… Vì vậy, các mẹ cần tỏ thái độ dứt khoát và “mạnh tay” ngăn chặn thói quen xấu này của bé.

5. Ăn quá nhiều

Ăn nhiều đồ ăn, đặc biệt là đồ chiên xào không những có thể gây khó tiêu, béo phì, viêm loét miệng… mà còn ảnh hưởng không tốt đến “sức khỏe” của răng, khiến răng phải làm việc quá nhiều và tiếp xúc với nhiều loại chất, lâu dần có thể gây ra những cơn đau răng rất khó chịu. Vì thế, các mẹ cần chú ý đến chế độ và tần suất ăn uống của con, để đảm bảo bé có chế độ ăn uống cân bằng, lành mạnh.

6. Hay ăn vặt

Các bà mẹ thường có thói quen cho con ăn nhẹ giữa các bữa ăn chính để đảm bảo bé luôn được cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng. Nhưng các mẹ không biết rằng khi cho con ăn vặt như vậy, nước bọt tiết ra ít hơn, khiến đồ ăn dễ dàng bám trên răng, đặc biệt là thực phẩm giàu tinh bột như khoai tây chiên. Trên thực tế, sau mỗi lần ăn như vậy, các mẹ thường không vệ sinh răng cho con vì như vậy rất bất tiện, mất thời gian và vệ sinh răng quá nhiều lần trong ngày cũng không phải là tốt. Vì thế, thường xuyên ăn vặt dễ khiến răng bị sâu và có thể làm hỏng men răng.

Các chuyên gia y khoa về chăm sóc răng miệng khuyên các mẹ nên hạn chế cho con ăn vặt, chỉ nên ăn ở mức độ nhất định và không nên cho con ăn đồ ngọt như bánh kẹo trước khi đi ngủ. Nếu cho ăn, cần phải đảm bảo bé đã được vệ sinh răng miệng sạch sẽ trước khi lên giường đi ngủ.

Nguyên nhân gây sâu răng ở trẻ

1. Uống si rô ho không xúc miệng

Một số bà mẹ sau khi cho con uống si rô ho vào buổi tối trước khi đi ngủ (để con không bị ho vào buổi đêm) thường không cho con uống nước hoặc xúc miệng do sợ làm pha loãng thuốc, làm giảm hiệu quả chữa trị của thuốc. Cách làm này không đúng vì trong phần lớn các si rô ho dành cho trẻ em đều chứa một lượng đường nhất định, nếu uống si rô trong thời gian dài sẽ tích lũy đường trong răng bé và gây ra sâu răng. Vì vậy, cho dù là thuốc thì sau khi uống si rô ho, các mẹ vẫn phải cho con vệ sinh răng như bình thường.



2. Ăn thức ăn nóng, lạnh liền nhau

Thông thường các bé thường được mẹ cho ăn cháo, cơm nóng hoặc uống sữa ấm sau đó tráng miệng bằng sữa chua, trái cây… (thường được trữ trong tủ lạnh). Việc ăn xen kẽ thức ăn nóng, lạnh như vậy thực sự rất có hại cho răng, trong một số trường hợp trẻ còn cảm thấy đau răng ngay sau khi ăn.

Các mẹ cần biết rằng, nhất là răng sữa đặc biệt nhạy cảm với sự thay đổi nhiệt độ nóng – lạnh. Bởi vậy, đau răng do nguyên nhân này lâu ngày có thể dẫn đến viêm tủy răng và một số bệnh về răng khác.

3. Uống sữa, nước hoa quả trước khi đi ngủ

Trong sữa có lactose, trong nước hoa quả có dư lượng đường cao nên nếu uống trước khi đi ngủ sẽ khiến vi khuẩn đường miệng dễ dàng xâm nhập và làm tổn thương răng. Vì vậy, các mẹ phải chắc chắn bé được đánh răng và súc miệng bằng nước diệt khuẩn sau mỗi lần uống sữa hay nước hoa quả trước khi ngủ. Với các bé sơ sinh, mẹ phải vệ sinh lợi và khoang miệng của bé thật cẩn thận sau khi cho bé bú cữ buổi tối. Tuy vậy, theo các chuyên gia chăm sóc răng miệng trẻ em, cách tốt nhất là các mẹ tập cho con bỏ dần thói quen uống sữa, nước hoa quả trước khi đi ngủ.

Theo ước tính, có hơn một nửa dân số thế giới khi sinh ra đã thiếu loại enzyme lactase cần thiết để phân giải đường lactose (một thành phần luôn có trong sữa). Điều đó khiến cho khả năng tiêu hóa lactose của cơ thể bạn mất đi tạm thời hoặc vĩnh viễn, gây chứng uống sữa bị đau bụng, đầy hơi, tiêu chảy.

4. Dùng răng mở nắp chai, xé bao bì

Mở nắp chai, xé bao bì, cắn chỉ khâu… hoặc cắn đồ vật cứng, nhọn sẽ tạo nên các vết nứt sâu trên răng, thậm chí có thể gây sứt hoặc mẻ răng. Ngoài ra, khi bé dùng răng để làm những việc như thế này sẽ khiến răng tiếp xúc với vi khuẩn trên miệng chai, bao bì, đồ vật… Vì vậy, các mẹ cần tỏ thái độ dứt khoát và “mạnh tay” ngăn chặn thói quen xấu này của bé.

5. Ăn quá nhiều

Ăn nhiều đồ ăn, đặc biệt là đồ chiên xào không những có thể gây khó tiêu, béo phì, viêm loét miệng… mà còn ảnh hưởng không tốt đến “sức khỏe” của răng, khiến răng phải làm việc quá nhiều và tiếp xúc với nhiều loại chất, lâu dần có thể gây ra những cơn đau răng rất khó chịu. Vì thế, các mẹ cần chú ý đến chế độ và tần suất ăn uống của con, để đảm bảo bé có chế độ ăn uống cân bằng, lành mạnh.

6. Hay ăn vặt

Các bà mẹ thường có thói quen cho con ăn nhẹ giữa các bữa ăn chính để đảm bảo bé luôn được cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng. Nhưng các mẹ không biết rằng khi cho con ăn vặt như vậy, nước bọt tiết ra ít hơn, khiến đồ ăn dễ dàng bám trên răng, đặc biệt là thực phẩm giàu tinh bột như khoai tây chiên. Trên thực tế, sau mỗi lần ăn như vậy, các mẹ thường không vệ sinh răng cho con vì như vậy rất bất tiện, mất thời gian và vệ sinh răng quá nhiều lần trong ngày cũng không phải là tốt. Vì thế, thường xuyên ăn vặt dễ khiến răng bị sâu và có thể làm hỏng men răng.

Các chuyên gia y khoa về chăm sóc răng miệng khuyên các mẹ nên hạn chế cho con ăn vặt, chỉ nên ăn ở mức độ nhất định và không nên cho con ăn đồ ngọt như bánh kẹo trước khi đi ngủ. Nếu cho ăn, cần phải đảm bảo bé đã được vệ sinh răng miệng sạch sẽ trước khi lên giường đi ngủ.


Sữa là thực phẩm hàm chứa nhiều nguồn dinh dưỡng, tuy nhiên dùng không đúng sẽ giảm thấp rất nhiều nguồn dinh dưỡng đó. Hãy lưu ý 10 chú ý dưới đây.

1. Sữa càng đặc càng tốt?

Có người cho rằng, sữa càng đặc, cơ thể sẽ càng có nhiều dinh dưỡng, điều này không khoa học. Cái gọi là sữa quá đặc là chỉ trong sữa thêm nhiều bột nhưng ít nước, làm cho nồng độ sữa vượt quá tiêu chuẩn tỉ lệ bình thường. Cũng có người lo sợ sữa tươi quá nhạt nên thêm sữa bột vào trong sữa.



Nếu cho trẻ thường xuyên uống sữa bị đau bụng, táo bón, ăn uống không ngon hoặc thậm chí cự tuyệt thức ăn, còn dẫn đến viêm ruột non xuất huyết cấp tính. Điều này là do cơ quan nội tạng của trẻ còn yếu mềm, chịu không nổi gánh nặng và áp lực quá nặng.

2. Sữa thêm nhiều đường càng tốt?

Sữa không cho đường không dễ tiêu hóa, đây là "kiến thức chung" ai cũng biết. Thêm đường là để tăng thêm nhiệt lượng carbohydrates cung cấp, nhưng phải chú ý định lượng, thông thường mỗi 100ml sữa thêm 5-8g đường.

Trong sữa nên cho loại đường nào? Tốt nhất là đường mía, đường mía sau khi vào đường tiêu hóa bị tiêu hóa phân giải, biến thành glucose được cơ thể hấp thụ. Độ ngọt của glucose thấp, nhưng dùng nhiều sẽ dễ vượt quá phạm vi quy định.

Còn vấn đề nên cho đường vào lúc nào? Nếu cùng làm nóng đường và sữa, sẽ làm cho lysine trong sữa gây ra phản ứng với đường ở độ nhiệt cao (80℃-100℃), hình thành chất glycosyl lysine gây hại. Chất này không những không được cơ thể hấp thụ mà còn gây nguy hại cho sức khỏe. Vì vậy, nên đun sôi sữa xong để nguội đến nhiệt độ ấm (40℃-50℃) sau đó mới cho đường vào trong sữa hòa tan.

3. Sữa có thêm Chocolate?

Có người cho rằng, mặc dù sữa thuộc loại thực phẩm có protein cao, chocolate lại là thực phẩm năng lượng, hai loại kết hợp lại nhất định có ích lớn cho sức khỏe. Thực tế lại không như vậy.

Sữa trong dịch thể thêm chocolate sẽ làm cho can-xi trong sữa và acid oxalic trong chocolate sản sinh ra phản ứng hóa học, hình thành "can-xi oxalic acid". Thế là, chất can-xi vốn dĩ có giá trị dinh dưỡng lại biến thành một chất gây hại cho cơ thể, từ đó gây ra thiếu can-xi, uống sữa bị sôi bụng, trẻ em sinh trưởng chậm, tóc lông xơ cứng, dễ gãy xương và tăng tỉ lệ phát bệnh sỏi đường tiết niệu...

4. Uống thuốc cùng với sữa, lợi 2 trong 1?

Có người cho rằng, đồ uống có dinh dưỡng uống cùng với thuốc chữa bệnh nhất định sẽ có ích, thực tế đây là sai lầm hoàn toàn. Sữa có đủ ảnh hưởng rõ rệt đối với tốc độ hấp thụ thuốc trong cơ thể, làm cho độ đậm đặc của thuốc trong huyết dịch thấp hơn so với người uống thuốc không uống sữa trong thời gian nhất định.
Uống thuốc cùng với sữa còn dễ làm cho thuốc hình thành màng bao phủ trên bề mặt, làm cho can-xi trong sữa và ion khoáng chất như kẽm... gây phản ứng hóa học với thuốc, hình thành chất hòa tan không phải nước, điều này không chỉ làm giảm thấp hiệu quả thuốc, còn có thể gây nguy hại cho cơ thể, vì vậy trong 1-2 tiếng trước và sau khi uống thuốc tốt nhất không nên uống sữa.
5. Dùng sữa chua cho trẻ em uống?

Sữa chua là một loại đồ uống mạnh khỏe có lợi cho tiêu hóa, có phụ huynh thường dùng sữa chua chăm sóc bé uống. Tuy nhiên, vi khuẩn acid lactic trong sữa chua hình thành nên kháng sinh, mặc dù có thể khống chế rất nhiều vi khuẩn nguồn bệnh sinh trưởng, nhưng đồng thời cũng phá vỡ điều kiện sinh trưởng nhóm vi khuẩn bình thường có ích đối với cơ thể, còn ảnh hưởng đến chức năng tiêu hóa thông thường, đặc biệt là trẻ em mắc chứng viêm dạ dày đường ruột và trẻ em sinh non. Nếu cho những trẻ đó uống sữa chua có thể sẽ gây ra nôn mửa và viêm ruột dạng hoại tử.

6. Thêm nước cam hoặc nước chanh vào trong sữa để tăng hương vị?

Thêm nước cam hoặc nước chanh vào trong sữa xem ra là một biện pháp tốt, nhưng trên thực tế, nước cam và nước chanh đều thuộc sản phẩm hoa quả acid AHA cao, acid AHA gặp protein trong sữa sẽ làm cho protein biến chất, từ đó giảm thấp giá trị dinh dưỡng của protein.

7. Thêm sữa vào trong cháo?
Có người cho rằng, làm như thế có thể làm cho dinh dưỡng hỗ trợ lẫn nhau. Thực tế cách làm này rất không khoa học. Trong sữa hàm chứa vitamin A, còn cháo chủ yếu tinh bột là chính, trong đó hàm chứa Lipoxygenase sẽ phá hỏng vitamin A. Trẻ em nếu dung nạp không đủ vitamin A sẽ làm cho trẻ em phát triển kỹ năng chậm chạp, cơ thể yếu nhiều bệnh, vì vậy dù là để bổ sung dinh dưỡng thì cũng cần phân khai sử dụng hai loại này.
8. Sữa cần phải nấu sôi?

Thông thường, nhiệt độ khử độc của sữa yêu cầu không cao, ở 70℃ sử dụng 3 phút, 60℃ sử dụng 6 phút là được. Nếu nấu sôi, nhiệt độ đạt đến 100℃, chất lactose trong sữa sẽ xuất hiện hiện tượng cháy, đường cháy có thể dẫn đến ung thư. Ngoài ra, can-xi trong sữa sau khi nấu sôi sẽ xuất hiện hiện tượng kết tủa phốt phát, từ đó giảm thấp giá trị dinh dưỡng của sữa.

9. Sữa đựng trong bình để dưới ánh nắng có thể tăng thêm vitamin D?

Có người xem quảng cáo biết rằng: bổ sung can-xi còn cần bổ sung vitamin D. Ánh mặt trời lại là nguồn vitamin D thiên nhiên dễ hấp thụ nhất, thế là tìm cách rót sữa vào trong bình để phơi dưới ánh nắng mặt trời. Thực tế làm như vậy vừa được vừa mất. Sữa có thể dành được một số vitamin D, nhưng lại mất đi vitamin B1, B2 và vitamin C. Bởi vì 3 loại dinh dưỡng này sẽ bị phân giải ở dưới ánh nắng mặt trời, dẫn đến một phần mất đi hoặc mất đi toàn bộ. Ngoài ra dưới ánh nắng đường lactose sẽ lên men làm cho sữa biến chất.

10. Lấy sữa đặc thay thế sữa bò?

Sữa đặc là một loại chế phẩm từ sữa bò, là sữa tươi nấu lên đến dung lượng 2/5, sau đó thêm 40% đường mía đóng hộp là được. Có người bị ảnh hưởng của lý thuyết " sản phẩm cô đặc đều là tinh hoa", bèn lấy sữa đặc thay thế sữa. Làm như vậy hiển nhiên là không đúng. Sữa đặc quá ngọt, bắt buộc phải thêm 5-8 lần nước để hòa loãng. Nhưng khi độ ngọt vừa miệng thì nồng độ chất béo và protein cũng giảm thấp đi một nửa so với sữa tươi. Nếu thêm nước vào trong sữa đặc, sẽ làm cho nồng độ protein và chất béo gần với sữa tươi, như vậy thì hàm lượng đường sẽ hơi cao.

Bạn có đang dùng sữa khoa học?

Sữa là thực phẩm hàm chứa nhiều nguồn dinh dưỡng, tuy nhiên dùng không đúng sẽ giảm thấp rất nhiều nguồn dinh dưỡng đó. Hãy lưu ý 10 chú ý dưới đây.

1. Sữa càng đặc càng tốt?

Có người cho rằng, sữa càng đặc, cơ thể sẽ càng có nhiều dinh dưỡng, điều này không khoa học. Cái gọi là sữa quá đặc là chỉ trong sữa thêm nhiều bột nhưng ít nước, làm cho nồng độ sữa vượt quá tiêu chuẩn tỉ lệ bình thường. Cũng có người lo sợ sữa tươi quá nhạt nên thêm sữa bột vào trong sữa.



Nếu cho trẻ thường xuyên uống sữa bị đau bụng, táo bón, ăn uống không ngon hoặc thậm chí cự tuyệt thức ăn, còn dẫn đến viêm ruột non xuất huyết cấp tính. Điều này là do cơ quan nội tạng của trẻ còn yếu mềm, chịu không nổi gánh nặng và áp lực quá nặng.

2. Sữa thêm nhiều đường càng tốt?

Sữa không cho đường không dễ tiêu hóa, đây là "kiến thức chung" ai cũng biết. Thêm đường là để tăng thêm nhiệt lượng carbohydrates cung cấp, nhưng phải chú ý định lượng, thông thường mỗi 100ml sữa thêm 5-8g đường.

Trong sữa nên cho loại đường nào? Tốt nhất là đường mía, đường mía sau khi vào đường tiêu hóa bị tiêu hóa phân giải, biến thành glucose được cơ thể hấp thụ. Độ ngọt của glucose thấp, nhưng dùng nhiều sẽ dễ vượt quá phạm vi quy định.

Còn vấn đề nên cho đường vào lúc nào? Nếu cùng làm nóng đường và sữa, sẽ làm cho lysine trong sữa gây ra phản ứng với đường ở độ nhiệt cao (80℃-100℃), hình thành chất glycosyl lysine gây hại. Chất này không những không được cơ thể hấp thụ mà còn gây nguy hại cho sức khỏe. Vì vậy, nên đun sôi sữa xong để nguội đến nhiệt độ ấm (40℃-50℃) sau đó mới cho đường vào trong sữa hòa tan.

3. Sữa có thêm Chocolate?

Có người cho rằng, mặc dù sữa thuộc loại thực phẩm có protein cao, chocolate lại là thực phẩm năng lượng, hai loại kết hợp lại nhất định có ích lớn cho sức khỏe. Thực tế lại không như vậy.

Sữa trong dịch thể thêm chocolate sẽ làm cho can-xi trong sữa và acid oxalic trong chocolate sản sinh ra phản ứng hóa học, hình thành "can-xi oxalic acid". Thế là, chất can-xi vốn dĩ có giá trị dinh dưỡng lại biến thành một chất gây hại cho cơ thể, từ đó gây ra thiếu can-xi, uống sữa bị sôi bụng, trẻ em sinh trưởng chậm, tóc lông xơ cứng, dễ gãy xương và tăng tỉ lệ phát bệnh sỏi đường tiết niệu...

4. Uống thuốc cùng với sữa, lợi 2 trong 1?

Có người cho rằng, đồ uống có dinh dưỡng uống cùng với thuốc chữa bệnh nhất định sẽ có ích, thực tế đây là sai lầm hoàn toàn. Sữa có đủ ảnh hưởng rõ rệt đối với tốc độ hấp thụ thuốc trong cơ thể, làm cho độ đậm đặc của thuốc trong huyết dịch thấp hơn so với người uống thuốc không uống sữa trong thời gian nhất định.
Uống thuốc cùng với sữa còn dễ làm cho thuốc hình thành màng bao phủ trên bề mặt, làm cho can-xi trong sữa và ion khoáng chất như kẽm... gây phản ứng hóa học với thuốc, hình thành chất hòa tan không phải nước, điều này không chỉ làm giảm thấp hiệu quả thuốc, còn có thể gây nguy hại cho cơ thể, vì vậy trong 1-2 tiếng trước và sau khi uống thuốc tốt nhất không nên uống sữa.
5. Dùng sữa chua cho trẻ em uống?

Sữa chua là một loại đồ uống mạnh khỏe có lợi cho tiêu hóa, có phụ huynh thường dùng sữa chua chăm sóc bé uống. Tuy nhiên, vi khuẩn acid lactic trong sữa chua hình thành nên kháng sinh, mặc dù có thể khống chế rất nhiều vi khuẩn nguồn bệnh sinh trưởng, nhưng đồng thời cũng phá vỡ điều kiện sinh trưởng nhóm vi khuẩn bình thường có ích đối với cơ thể, còn ảnh hưởng đến chức năng tiêu hóa thông thường, đặc biệt là trẻ em mắc chứng viêm dạ dày đường ruột và trẻ em sinh non. Nếu cho những trẻ đó uống sữa chua có thể sẽ gây ra nôn mửa và viêm ruột dạng hoại tử.

6. Thêm nước cam hoặc nước chanh vào trong sữa để tăng hương vị?

Thêm nước cam hoặc nước chanh vào trong sữa xem ra là một biện pháp tốt, nhưng trên thực tế, nước cam và nước chanh đều thuộc sản phẩm hoa quả acid AHA cao, acid AHA gặp protein trong sữa sẽ làm cho protein biến chất, từ đó giảm thấp giá trị dinh dưỡng của protein.

7. Thêm sữa vào trong cháo?
Có người cho rằng, làm như thế có thể làm cho dinh dưỡng hỗ trợ lẫn nhau. Thực tế cách làm này rất không khoa học. Trong sữa hàm chứa vitamin A, còn cháo chủ yếu tinh bột là chính, trong đó hàm chứa Lipoxygenase sẽ phá hỏng vitamin A. Trẻ em nếu dung nạp không đủ vitamin A sẽ làm cho trẻ em phát triển kỹ năng chậm chạp, cơ thể yếu nhiều bệnh, vì vậy dù là để bổ sung dinh dưỡng thì cũng cần phân khai sử dụng hai loại này.
8. Sữa cần phải nấu sôi?

Thông thường, nhiệt độ khử độc của sữa yêu cầu không cao, ở 70℃ sử dụng 3 phút, 60℃ sử dụng 6 phút là được. Nếu nấu sôi, nhiệt độ đạt đến 100℃, chất lactose trong sữa sẽ xuất hiện hiện tượng cháy, đường cháy có thể dẫn đến ung thư. Ngoài ra, can-xi trong sữa sau khi nấu sôi sẽ xuất hiện hiện tượng kết tủa phốt phát, từ đó giảm thấp giá trị dinh dưỡng của sữa.

9. Sữa đựng trong bình để dưới ánh nắng có thể tăng thêm vitamin D?

Có người xem quảng cáo biết rằng: bổ sung can-xi còn cần bổ sung vitamin D. Ánh mặt trời lại là nguồn vitamin D thiên nhiên dễ hấp thụ nhất, thế là tìm cách rót sữa vào trong bình để phơi dưới ánh nắng mặt trời. Thực tế làm như vậy vừa được vừa mất. Sữa có thể dành được một số vitamin D, nhưng lại mất đi vitamin B1, B2 và vitamin C. Bởi vì 3 loại dinh dưỡng này sẽ bị phân giải ở dưới ánh nắng mặt trời, dẫn đến một phần mất đi hoặc mất đi toàn bộ. Ngoài ra dưới ánh nắng đường lactose sẽ lên men làm cho sữa biến chất.

10. Lấy sữa đặc thay thế sữa bò?

Sữa đặc là một loại chế phẩm từ sữa bò, là sữa tươi nấu lên đến dung lượng 2/5, sau đó thêm 40% đường mía đóng hộp là được. Có người bị ảnh hưởng của lý thuyết " sản phẩm cô đặc đều là tinh hoa", bèn lấy sữa đặc thay thế sữa. Làm như vậy hiển nhiên là không đúng. Sữa đặc quá ngọt, bắt buộc phải thêm 5-8 lần nước để hòa loãng. Nhưng khi độ ngọt vừa miệng thì nồng độ chất béo và protein cũng giảm thấp đi một nửa so với sữa tươi. Nếu thêm nước vào trong sữa đặc, sẽ làm cho nồng độ protein và chất béo gần với sữa tươi, như vậy thì hàm lượng đường sẽ hơi cao.


Mẹ nào có con nhỏ thì không lạ gì với “món” tiêu chảy này đúng không? Thậm chí là nhiều lần chứ không ít, và có mẹ đã lo lắng đến mất ăn mất ngủ. Nhưng để đánh bay tiêu chảy thực ra không hề khó, chỉ cần mẹ ghi nhớ và chăm sóc bé theo những điều dưới đây:

Bù nước cho con

Bị tiêu chảy cơ thể bao giờ cũng bị mất nước, và tình trạng này nếu để lâu dài sẽ gây ra biến chứng nặng nề. Do đó cần cho bé uống bù nước ngay khi bị tiêu chảy.

Thông thường, mẹ hay dùng Oresol để bù nước cho bé. Cách này được đánh giá cao vì còn bù được điện giải, kali; thay vì cho bé uống nhiều nước lọc, bụng bé sẽ chướng lên mà chỉ bù được nước thôi.

Tuy nhiên, mẹ cần hết sức lưu ý khi pha Oresol, vì dung dịch này chỉ phát huy hiệu quả nếu được pha đúng liều, tức là 1 gói Oresol pha với 1 lít nước sôi để nguội. Lý do là nếu quá loãng, hàm lượng chất điện giải sẽ không đủ, có thể gây nguy hiểm cho trẻ. Ngược lại nếu pha quá đặc, trẻ sẽ bị ngộ độc muối, thậm chí có thể nguy hiểm đến tính mạng.

Lượng muối trong máu quá cao sẽ rút nước từ các tế bào ra, khiến cơ thể bị mất nước và rối loạn điện giải nghiêm trọng hơn. Mẹ cũng không nên pha nửa gói Oresol với nửa lít nước nhé, và đừng để quá 12 giờ sau khi pha.



Bổ sung dinh dưỡng

Khi bị tiêu chảy, thực đơn cho bé cần đầy đủ, thích hợp để đảm bảo sức khỏe và tránh sụt cân. Nhiều mẹ sai lầm cho rằng chỉ nên để bé uống nước cháo trắng với chút muối, bởi thức ăn có thể làm tình trạng tiêu chảy trầm trọng hơn. Tuy nhiên, các bác sĩ khuyên rằng nên cho con ăn uống đầy đủ và chỉ cần lưu ý khi chế biến thức ăn như sau:

- Thức ăn nên đuợc chế biến dưới dạng mềm, lỏng hơn so với bình thường. Thực đơn ăn dặm nên cho bé ăn những thứ dễ tiêu như chuối, cháo thịt nạc,… và hạn chế cà rốt, các loại rau như đậu, bắp cải, giá…; các loại trái cây có bột như lê, đào, mận… vì thực tế thời điểm này bé không tiêu được những thức ăn đó.

Nếu bé thích uống sữa thì cha mẹ vẫn có thể cho bé uống bình thường nhưng hãy chọn loại không có lactose.

- Sữa mẹ là tốt nhất vì vậy nên cho trẻ bú mẹ thường xuyên.

Một số bài thuốc trị tiêu chảy từ… vườn nhà

Thường thì tình trạng tiêu chảy có thể kéo dài vài ngày đến một tuần rồi sẽ hết. Các mẹ đừng quá lo lắng và cũng không được tự ý cho bé uống kháng sinh. Bởi phần lớn nguyên  nhân tiêu chảy do virut nên dùng kháng sinh hoàn toàn vô ích mà còn làm bé mệt thêm.

Do vậy chỉ dùng kháng sinh khi có chỉ định của bác sĩ, chẳng hạn khi tiêu chảy đã xác định được nguyên nhân do vi khuẩn hoặc tiêu chảy có biến chứng bội nhiễm, viêm phổi...

Nếu mẹ vẫn thấy sốt ruột thì có thể áp dụng những bài thuốc dân gian sau để cắt cơn “xì xoẹt” của con nhé:

1. Gạo lức: Dùng 100g gạo lức rang vàng, thơm, rồi đem nấu với 2 lít nước và chút muối đến khi hạt gạo chín mềm. Sau đó mẹ lấy nước này cho bé uống, chừng vài ngày sẽ hết.

2. Rễ và thân cây lá lốt: Mẹ đem rửa thật sạch rồi ngâm nước muối, sau đó rang vàng, hạ thổ. Dùng lá và rễ đó hãm với nước, ngày cho bé uống 3 lần, mỗi lần 5ml là khỏi.

3. Trứng lá mơ: Hái một nắm lá mơ tía (khoảng 100g) (nếu không mẹ có thể dùng mơ trắng cũng được). Đem rửa sạch, để ráo rồi giã nhỏ với chút muối. Sau đó thêm 1 quả trứng gà vào trộn đều và đem áp chảo cho bé ăn 2 lần một ngày. Cách này cũng nhanh khỏi nhưng chỉ áp dụng được với các bé đã ăn được rồi mà thôi.

4. Lá cây nhót: Dùng lá tươi (20-30g) hoặc lá khô (6-12g), thái nhỏ, sao vàng, sắc với 400ml nước còn 100ml, uống làm hai lần trong ngày. Mẹ có thể dùng dưới dạng thuốc bột cũng được.

5. Rau sam và cỏ sữa: Khi bé có triệu chứng đau bụng, tiêu chảy nhiều, mẹ hãy dùng rau sam tươi 100g, cỏ sữa tươi 50g sắc uống thay nước trong ngày.

6. Lá vú sữa: Mẹ rửa sạch, cắt nhuyễn đủ 1 chén lá vú sữa rồi cho vào nồi cùng 2 ly nước sạch và đun sôi 15 phút. Dùng nước này uống trị tiêu chảy 3 lần/ngày, mỗi lần 1/4 chén cho trẻ em 2-6 tuổi; 1/2 chén cho trẻ 7-12 tuổi.

Lưu ý: Trong trường hợp bé có dấu hiệu mất nước nhiều như: khóc không có nước mắt, lưỡi khô, khát (bú háo hức) hoặc li bì, mệt lả, mắt trũng và khô, uống kém hoặc không thể bú được thì cần đưa ngay con tới cơ sở y tế để khám và điều trị.

Xử trí nhanh khi bé bị tiêu chảy

Mẹ nào có con nhỏ thì không lạ gì với “món” tiêu chảy này đúng không? Thậm chí là nhiều lần chứ không ít, và có mẹ đã lo lắng đến mất ăn mất ngủ. Nhưng để đánh bay tiêu chảy thực ra không hề khó, chỉ cần mẹ ghi nhớ và chăm sóc bé theo những điều dưới đây:

Bù nước cho con

Bị tiêu chảy cơ thể bao giờ cũng bị mất nước, và tình trạng này nếu để lâu dài sẽ gây ra biến chứng nặng nề. Do đó cần cho bé uống bù nước ngay khi bị tiêu chảy.

Thông thường, mẹ hay dùng Oresol để bù nước cho bé. Cách này được đánh giá cao vì còn bù được điện giải, kali; thay vì cho bé uống nhiều nước lọc, bụng bé sẽ chướng lên mà chỉ bù được nước thôi.

Tuy nhiên, mẹ cần hết sức lưu ý khi pha Oresol, vì dung dịch này chỉ phát huy hiệu quả nếu được pha đúng liều, tức là 1 gói Oresol pha với 1 lít nước sôi để nguội. Lý do là nếu quá loãng, hàm lượng chất điện giải sẽ không đủ, có thể gây nguy hiểm cho trẻ. Ngược lại nếu pha quá đặc, trẻ sẽ bị ngộ độc muối, thậm chí có thể nguy hiểm đến tính mạng.

Lượng muối trong máu quá cao sẽ rút nước từ các tế bào ra, khiến cơ thể bị mất nước và rối loạn điện giải nghiêm trọng hơn. Mẹ cũng không nên pha nửa gói Oresol với nửa lít nước nhé, và đừng để quá 12 giờ sau khi pha.



Bổ sung dinh dưỡng

Khi bị tiêu chảy, thực đơn cho bé cần đầy đủ, thích hợp để đảm bảo sức khỏe và tránh sụt cân. Nhiều mẹ sai lầm cho rằng chỉ nên để bé uống nước cháo trắng với chút muối, bởi thức ăn có thể làm tình trạng tiêu chảy trầm trọng hơn. Tuy nhiên, các bác sĩ khuyên rằng nên cho con ăn uống đầy đủ và chỉ cần lưu ý khi chế biến thức ăn như sau:

- Thức ăn nên đuợc chế biến dưới dạng mềm, lỏng hơn so với bình thường. Thực đơn ăn dặm nên cho bé ăn những thứ dễ tiêu như chuối, cháo thịt nạc,… và hạn chế cà rốt, các loại rau như đậu, bắp cải, giá…; các loại trái cây có bột như lê, đào, mận… vì thực tế thời điểm này bé không tiêu được những thức ăn đó.

Nếu bé thích uống sữa thì cha mẹ vẫn có thể cho bé uống bình thường nhưng hãy chọn loại không có lactose.

- Sữa mẹ là tốt nhất vì vậy nên cho trẻ bú mẹ thường xuyên.

Một số bài thuốc trị tiêu chảy từ… vườn nhà

Thường thì tình trạng tiêu chảy có thể kéo dài vài ngày đến một tuần rồi sẽ hết. Các mẹ đừng quá lo lắng và cũng không được tự ý cho bé uống kháng sinh. Bởi phần lớn nguyên  nhân tiêu chảy do virut nên dùng kháng sinh hoàn toàn vô ích mà còn làm bé mệt thêm.

Do vậy chỉ dùng kháng sinh khi có chỉ định của bác sĩ, chẳng hạn khi tiêu chảy đã xác định được nguyên nhân do vi khuẩn hoặc tiêu chảy có biến chứng bội nhiễm, viêm phổi...

Nếu mẹ vẫn thấy sốt ruột thì có thể áp dụng những bài thuốc dân gian sau để cắt cơn “xì xoẹt” của con nhé:

1. Gạo lức: Dùng 100g gạo lức rang vàng, thơm, rồi đem nấu với 2 lít nước và chút muối đến khi hạt gạo chín mềm. Sau đó mẹ lấy nước này cho bé uống, chừng vài ngày sẽ hết.

2. Rễ và thân cây lá lốt: Mẹ đem rửa thật sạch rồi ngâm nước muối, sau đó rang vàng, hạ thổ. Dùng lá và rễ đó hãm với nước, ngày cho bé uống 3 lần, mỗi lần 5ml là khỏi.

3. Trứng lá mơ: Hái một nắm lá mơ tía (khoảng 100g) (nếu không mẹ có thể dùng mơ trắng cũng được). Đem rửa sạch, để ráo rồi giã nhỏ với chút muối. Sau đó thêm 1 quả trứng gà vào trộn đều và đem áp chảo cho bé ăn 2 lần một ngày. Cách này cũng nhanh khỏi nhưng chỉ áp dụng được với các bé đã ăn được rồi mà thôi.

4. Lá cây nhót: Dùng lá tươi (20-30g) hoặc lá khô (6-12g), thái nhỏ, sao vàng, sắc với 400ml nước còn 100ml, uống làm hai lần trong ngày. Mẹ có thể dùng dưới dạng thuốc bột cũng được.

5. Rau sam và cỏ sữa: Khi bé có triệu chứng đau bụng, tiêu chảy nhiều, mẹ hãy dùng rau sam tươi 100g, cỏ sữa tươi 50g sắc uống thay nước trong ngày.

6. Lá vú sữa: Mẹ rửa sạch, cắt nhuyễn đủ 1 chén lá vú sữa rồi cho vào nồi cùng 2 ly nước sạch và đun sôi 15 phút. Dùng nước này uống trị tiêu chảy 3 lần/ngày, mỗi lần 1/4 chén cho trẻ em 2-6 tuổi; 1/2 chén cho trẻ 7-12 tuổi.

Lưu ý: Trong trường hợp bé có dấu hiệu mất nước nhiều như: khóc không có nước mắt, lưỡi khô, khát (bú háo hức) hoặc li bì, mệt lả, mắt trũng và khô, uống kém hoặc không thể bú được thì cần đưa ngay con tới cơ sở y tế để khám và điều trị.


I. Sữa cho trẻ dưới 1 tuổi:

1. Sữa dành cho trẻ sanh non nhẹ cân: nếu trẻ có cân nặng dưới 2.500g, bạn nên sử dụng nhóm sữa này để nuôi trẻ.

- Chứa protein, vitamin và khoáng chất cao phù hợp cho trẻ sanh non.
- Năng lượng cao hơn so với sữa bình thường (0,7-0,75Kcal/ml so với 0,67Kcal/ml)

Ngoài ra , ở những nước đã phát triển còn có dạng sữa mẹ đóng hộp được bổ sung thêm vi chất.
2. Sữa công thức dùng cho trẻ dưới 6 tháng tuổi:
- Loại sữa này phù hợp cho trẻ sơ sinh (có cân nặng lúc sanh trên 2.500g) tới sáu tháng tuổi vì dễ tiêu hóa và có tỉ lệ canxi/photpho = 2:1, tỉ lệ này tối ưu cho thận của trẻ nhỏ và tăng cường hấp thụ canxi.
- Cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng khi trẻ bú được 150ml/kg cân nặng/ngày.



3. Sữa dành cho trẻ từ 6 - 12 tháng tuổi
Trẻ sau 6 tháng tuổi cần được cho ăn giặm đa dạng với đầy đủ bốn nhóm thực phẩm gồm chất béo, tinh bột, đạm, rau và trái cây. Sự tăng cân của trẻ không còn phụ thuộc nhiều vào chế độ sữa như trẻ dưới 6 tháng tuổi. Trẻ chỉ cần bú 500-800ml sữa/ngày là đủ, phụ thuộc vào cân nặng hiện tại của trẻ.

II. Sữa dành cho trẻ trên 1 tuổi
Có thể chia ra loại trên 3 tuổi và trên 6 tuổi do tùy theo nhu cầu ưu tiên chất dinh dưỡng theo lứa tuổi như nhiều canxi hơn, nhiều chất giúp tăng cường chống nhiễm khuẩn hơn, nhưng nói chung thì tương đối không khác nhau nhiều và sự lựa chọn không cần chặt chẽ quá do trẻ còn ăn thêm nhiều thực phẩm khác nữa. Trẻ cần uống khoảng 300-500ml sữa/ngày.

III. Nhóm sữa dành cho các nhu cầu đặc biệt

1. Nhóm không có đường lactose:

Nhóm sữa này thường dùng cho trẻ có ruột bị kích thích, đầy hơi, tiêu lỏng do nhạy cảm với đường lactose. Dựa vào nguồn đạm có trong sữa, nhóm này được phân làm hai loại: Gốc động vật và Gốc thực vật.

2. Sữa thủy phân:

Sữa không chứa đường lactose và protein sữa bò đã bị thủy phân nên dễ tiêu hóa dùng cho trẻ bị dị ứng sữa bò: Nutramigen, Pregestimil và Alimentum. Ngoài ra, có thể dùng cho trẻ từ sơ sinh bị rối loạn tiêu hóa, ăn uống bất cứ loại gì hoặc uống sữa bị đau bụng, không dung nạp được thức ăn do tiêu chảy nặng kéo dài, bệnh lý mổ cắt ruột nhiều, suy dinh dưỡng dạng teo đét.

Nếu gia đình bạn có tiền căn dị ứng thức ăn hoặc trẻ bị dị ứng sữa bò, bạn nên chọn sữa đậu nành hoặc sữa thủy phân nếu trẻ không được nuôi bằng sữa mẹ. Tuy nhiên cũng có một số trẻ dị ứng sữa bò có phản ứng dị ứng chéo với sữa đậu nành.

3. Sữa dành cho trẻ bị trào ngược dạ dày thực quản:

Một số sữa công thức có bổ sung thêm tinh bột gạo (ví dụ như Enfamil AR), hoặc bổ sung thêm chất gôm thiên nhiên có đặc tính làm đặc sữa giúp giảm nôn và nuôi dưỡng các vi khuẩn có ích trong ruột, làm tăng thể tích và độ dẻo của phân, ngăn ngừa táo bón và các cơn đau co thắt (ví dụ như Frisolac Comfort).

4. Nhóm sữa không chất béo:

Sữa không chất béo chứa ít năng lượng và không chứa cholesterol thường được sử dụng cho đối tượng có nhu cầu canxi nhưng không muốn tăng cân hoặc cần kiêng chất béo như trong bệnh lý rối loạn chuyển hóa lipid, cholesterol cao, tiểu đường hoặc do kém hấp thu chất béo như bệnh lý gan mật, tiêu hóa.

Khi đã chọn xong loại sữa, bạn cần chú ý những vấn đề sau:

- Xem thời gian sử dụng trên nhãn sữa.
- Pha chế sữa đúng theo hướng dẫn được ghi trên nhãn sữa vì nếu pha sữa đặc có thể dẫn đến tình trạng rối loạn điện giải và tổn thương thận của trẻ, ngược lại nếu pha sữa lỏng sẽ làm trẻ ảnh hưởng sự tăng trưởng của trẻ và có thể gây suy dinh dưỡng.
- Phải rửa tay trước khi cầm vào bình sữa và khi cho trẻ bú.
- Cần tiệt trùng bình sữa trước khi pha chế.
- Sau khi trẻ đã bú xong nên đổ bỏ phần sữa còn thừa lại vì vi trùng trong nước bọt của trẻ sẽ sống và tăng sinh trong phần sữa đó.

Không nên:

- Ủ hoặc để tủ lạnh sữa đã được pha mà không sử dụng ngay.
- Hâm nóng sữa bằng lò vi sóng vì nhiệt độ của sữa có thể rất cao mặc dầu bình sữa khi bạn chạm vào không nóng.
- Dùng nước rau để pha sữa.

Kinh nghiệm chọn sữa cho bé

I. Sữa cho trẻ dưới 1 tuổi:

1. Sữa dành cho trẻ sanh non nhẹ cân: nếu trẻ có cân nặng dưới 2.500g, bạn nên sử dụng nhóm sữa này để nuôi trẻ.

- Chứa protein, vitamin và khoáng chất cao phù hợp cho trẻ sanh non.
- Năng lượng cao hơn so với sữa bình thường (0,7-0,75Kcal/ml so với 0,67Kcal/ml)

Ngoài ra , ở những nước đã phát triển còn có dạng sữa mẹ đóng hộp được bổ sung thêm vi chất.
2. Sữa công thức dùng cho trẻ dưới 6 tháng tuổi:
- Loại sữa này phù hợp cho trẻ sơ sinh (có cân nặng lúc sanh trên 2.500g) tới sáu tháng tuổi vì dễ tiêu hóa và có tỉ lệ canxi/photpho = 2:1, tỉ lệ này tối ưu cho thận của trẻ nhỏ và tăng cường hấp thụ canxi.
- Cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng khi trẻ bú được 150ml/kg cân nặng/ngày.



3. Sữa dành cho trẻ từ 6 - 12 tháng tuổi
Trẻ sau 6 tháng tuổi cần được cho ăn giặm đa dạng với đầy đủ bốn nhóm thực phẩm gồm chất béo, tinh bột, đạm, rau và trái cây. Sự tăng cân của trẻ không còn phụ thuộc nhiều vào chế độ sữa như trẻ dưới 6 tháng tuổi. Trẻ chỉ cần bú 500-800ml sữa/ngày là đủ, phụ thuộc vào cân nặng hiện tại của trẻ.

II. Sữa dành cho trẻ trên 1 tuổi
Có thể chia ra loại trên 3 tuổi và trên 6 tuổi do tùy theo nhu cầu ưu tiên chất dinh dưỡng theo lứa tuổi như nhiều canxi hơn, nhiều chất giúp tăng cường chống nhiễm khuẩn hơn, nhưng nói chung thì tương đối không khác nhau nhiều và sự lựa chọn không cần chặt chẽ quá do trẻ còn ăn thêm nhiều thực phẩm khác nữa. Trẻ cần uống khoảng 300-500ml sữa/ngày.

III. Nhóm sữa dành cho các nhu cầu đặc biệt

1. Nhóm không có đường lactose:

Nhóm sữa này thường dùng cho trẻ có ruột bị kích thích, đầy hơi, tiêu lỏng do nhạy cảm với đường lactose. Dựa vào nguồn đạm có trong sữa, nhóm này được phân làm hai loại: Gốc động vật và Gốc thực vật.

2. Sữa thủy phân:

Sữa không chứa đường lactose và protein sữa bò đã bị thủy phân nên dễ tiêu hóa dùng cho trẻ bị dị ứng sữa bò: Nutramigen, Pregestimil và Alimentum. Ngoài ra, có thể dùng cho trẻ từ sơ sinh bị rối loạn tiêu hóa, ăn uống bất cứ loại gì hoặc uống sữa bị đau bụng, không dung nạp được thức ăn do tiêu chảy nặng kéo dài, bệnh lý mổ cắt ruột nhiều, suy dinh dưỡng dạng teo đét.

Nếu gia đình bạn có tiền căn dị ứng thức ăn hoặc trẻ bị dị ứng sữa bò, bạn nên chọn sữa đậu nành hoặc sữa thủy phân nếu trẻ không được nuôi bằng sữa mẹ. Tuy nhiên cũng có một số trẻ dị ứng sữa bò có phản ứng dị ứng chéo với sữa đậu nành.

3. Sữa dành cho trẻ bị trào ngược dạ dày thực quản:

Một số sữa công thức có bổ sung thêm tinh bột gạo (ví dụ như Enfamil AR), hoặc bổ sung thêm chất gôm thiên nhiên có đặc tính làm đặc sữa giúp giảm nôn và nuôi dưỡng các vi khuẩn có ích trong ruột, làm tăng thể tích và độ dẻo của phân, ngăn ngừa táo bón và các cơn đau co thắt (ví dụ như Frisolac Comfort).

4. Nhóm sữa không chất béo:

Sữa không chất béo chứa ít năng lượng và không chứa cholesterol thường được sử dụng cho đối tượng có nhu cầu canxi nhưng không muốn tăng cân hoặc cần kiêng chất béo như trong bệnh lý rối loạn chuyển hóa lipid, cholesterol cao, tiểu đường hoặc do kém hấp thu chất béo như bệnh lý gan mật, tiêu hóa.

Khi đã chọn xong loại sữa, bạn cần chú ý những vấn đề sau:

- Xem thời gian sử dụng trên nhãn sữa.
- Pha chế sữa đúng theo hướng dẫn được ghi trên nhãn sữa vì nếu pha sữa đặc có thể dẫn đến tình trạng rối loạn điện giải và tổn thương thận của trẻ, ngược lại nếu pha sữa lỏng sẽ làm trẻ ảnh hưởng sự tăng trưởng của trẻ và có thể gây suy dinh dưỡng.
- Phải rửa tay trước khi cầm vào bình sữa và khi cho trẻ bú.
- Cần tiệt trùng bình sữa trước khi pha chế.
- Sau khi trẻ đã bú xong nên đổ bỏ phần sữa còn thừa lại vì vi trùng trong nước bọt của trẻ sẽ sống và tăng sinh trong phần sữa đó.

Không nên:

- Ủ hoặc để tủ lạnh sữa đã được pha mà không sử dụng ngay.
- Hâm nóng sữa bằng lò vi sóng vì nhiệt độ của sữa có thể rất cao mặc dầu bình sữa khi bạn chạm vào không nóng.
- Dùng nước rau để pha sữa.


Phô mai là sản phẩm được chế biến có nguồn gốc từ sữa, được "cô đặc" nên có hàm lượng đạm, chất béo, đặc biệt hàm lượng canxi rất cao. Vì thế, phô mai là nguồn bổ sung đạm, chất béo và canxi rất tốt cho trẻ em. Đặc biệt, phô mai không chứa đường, nên với những trẻ không thể uống sữa do bất dung nạp đường lactose thì sử dụng phô mai thay thế cũng rất tốt.

Tuy nhiên, bạn không nên chỉ cho bé ăn phô mai, vì thế sẽ không cân đối hàm lượng dinh dưỡng, do trong phô mai chỉ có đạm, carbohydrate, chất béo, canxi chứ không có đầy đủ các vitamin, khoáng chất cần thiết cho cơ thể.



Chỉ nên cho con ăn phô mai như một bữa phụ, hoặc kết hợp với các sản phẩm khác như phết vào bánh mì, trộn vào bột, cháo... để vừa bổ sung thêm năng lượng, vừa có các vitamin, chất khoáng từ nguồn thực phẩm khác trong bát cháo.
Bạn cần tính toán thịt, cá, dầu ăn, mỡ sao cho hợp lý. Vì một bát cháo nấu đúng tính toán dinh dưỡng theo độ tuổi đã cung cấp đủ nhu cầu năng lượng, chất béo, khoáng chất cho trẻ. Nếu trộn thêm phô mai, tức khắc bát cháo đã được cộng thêm phần năng lượng, chất đạm, béo chứ không riêng gì canxi.

Tùy từng độ tuổi, cân nặng mà lượng bổ sung là bao nhiêu cho thích hợp. Đối với trẻ thừa cân, béo phì thì không cần thiết.
Thông thường ở trẻ bình thường chỉ nên cho ăn 1 - 2 thanh phô mai mỗi ngày, không ăn quá nhiều, kéo dài. Nếu bạn muốn bổ sung canxi cho con thì cũng nên chọn các thực phẩm giàu canxi như cua đồng, tôm đồng... Đồng thời kết hợp cho bé tắm nắng mỗi ngày vào buổi sáng, vận động hợp lý.

Dinh dưỡng hợp lý cho bé từ phô mai

Phô mai là sản phẩm được chế biến có nguồn gốc từ sữa, được "cô đặc" nên có hàm lượng đạm, chất béo, đặc biệt hàm lượng canxi rất cao. Vì thế, phô mai là nguồn bổ sung đạm, chất béo và canxi rất tốt cho trẻ em. Đặc biệt, phô mai không chứa đường, nên với những trẻ không thể uống sữa do bất dung nạp đường lactose thì sử dụng phô mai thay thế cũng rất tốt.

Tuy nhiên, bạn không nên chỉ cho bé ăn phô mai, vì thế sẽ không cân đối hàm lượng dinh dưỡng, do trong phô mai chỉ có đạm, carbohydrate, chất béo, canxi chứ không có đầy đủ các vitamin, khoáng chất cần thiết cho cơ thể.



Chỉ nên cho con ăn phô mai như một bữa phụ, hoặc kết hợp với các sản phẩm khác như phết vào bánh mì, trộn vào bột, cháo... để vừa bổ sung thêm năng lượng, vừa có các vitamin, chất khoáng từ nguồn thực phẩm khác trong bát cháo.
Bạn cần tính toán thịt, cá, dầu ăn, mỡ sao cho hợp lý. Vì một bát cháo nấu đúng tính toán dinh dưỡng theo độ tuổi đã cung cấp đủ nhu cầu năng lượng, chất béo, khoáng chất cho trẻ. Nếu trộn thêm phô mai, tức khắc bát cháo đã được cộng thêm phần năng lượng, chất đạm, béo chứ không riêng gì canxi.

Tùy từng độ tuổi, cân nặng mà lượng bổ sung là bao nhiêu cho thích hợp. Đối với trẻ thừa cân, béo phì thì không cần thiết.
Thông thường ở trẻ bình thường chỉ nên cho ăn 1 - 2 thanh phô mai mỗi ngày, không ăn quá nhiều, kéo dài. Nếu bạn muốn bổ sung canxi cho con thì cũng nên chọn các thực phẩm giàu canxi như cua đồng, tôm đồng... Đồng thời kết hợp cho bé tắm nắng mỗi ngày vào buổi sáng, vận động hợp lý.

Tình trạng bất dung nạp đường lactose và hậu quả
Là tình trạng cơ thể thiếu men Lactase để tiêu hóa đường Lactose có trong sữa mẹ và các sữa công thức. Lactose là nguồn cung cấp đường glucose cho sự hoạt động của não và cơ thể, làm phân mềm, tạo sự vượt trội của những vi khuẩn có lợi giúp cho sự phát triển hệ miễn dịch và tiêu hoá trong cơ thể trẻ. Men lactase ở màng ruột là men tiêu hoá biến đường lactose trở thành đường glucose.



Tình trạng bất dung nạp đường Lactose có thể do bẩm sinh hoặc do tiêu chảy bởi các nguyên nhân khác gây nên.
Thống kê cho thấy có khoảng 50% -70% trẻ uống sữa bị tiêu chảy nặng nhập viện có biểu hiện bất dung nạp đường Lactose.

Nhận biết việc trẻ bị bất dung nạp đường lactose
Các bà mẹ có thể nhận biết được bất dung nạp đường Lactose khi cho trẻ uống sữa bị đau bụng, đầy hơi, không muốn ăn, quấy khóc, tiêu chảy tăng lên, phân lỏng toàn nước chua hoặc có bọt, hậu môn đỏ. Khi cho trẻ ăn sữa không có lactose, các triệu chứng trên giảm rõ rệt, tiêu chảy cầm, phân đặc và giảm độ chua, trẻ chịu ăn và mau chóng khỏi tiêu chảy.

Làm gì khi trẻ bị bất dung nạp đường lactose
Vì những hậu quả của tiêu chảy do không dung nạp đường lactose, các bà mẹ cần phải khắc phục tình trạng này sớm nhất có thể và nuôi trẻ đúng cách khi trẻ bị tiêu chảy.
Nếu trẻ đang dùng sữa công thức thông thường, hoặc trong trường hợp trẻ nhỏ dưới 3 tháng, bị tiêu chảy kéo dài, hoặc trẻ có biểu hiện suy dinh dưỡng, có thể dùng các loại sữa không có đường lactose. Thành phần đường có thể là maltodextrin hoặc hỗn hợp đường đa có áp lực thẩm thấu thấp. Các thành phần đường này đã được chứng minh trên lâm sàng giúp trẻ tăng cân tốt hơn và phục hồi đường ruột nhanh hơn.

Cuối cùng, các bà mẹ cần nhớ khi trẻ bị tiêu chảy cần phải điều trị nguyên nhân gây bệnh và khắc phục hậu quả càng sớm càng tốt. Điều trị muộn là một l‎ý do kiến trẻ hay bị bất dung nạp đường lactose thứ phát, nên phòng ngừa là rất quan trọng.

Như vậy một trong những cách khắc phục hiện tượng này là CHO BÉ DÙNG LOẠI SỮA ĐẶC BIỆT CÓ LƯỢNG NHỎ ĐƯỜNG LACTOSE, cũng như các dưỡng chất giúp hệ tiêu hóa non nớt của bé dễ dàng hấp thu...

Cách lựa chọn sữa không lactose cho bé

Tình trạng bất dung nạp đường lactose và hậu quả
Là tình trạng cơ thể thiếu men Lactase để tiêu hóa đường Lactose có trong sữa mẹ và các sữa công thức. Lactose là nguồn cung cấp đường glucose cho sự hoạt động của não và cơ thể, làm phân mềm, tạo sự vượt trội của những vi khuẩn có lợi giúp cho sự phát triển hệ miễn dịch và tiêu hoá trong cơ thể trẻ. Men lactase ở màng ruột là men tiêu hoá biến đường lactose trở thành đường glucose.



Tình trạng bất dung nạp đường Lactose có thể do bẩm sinh hoặc do tiêu chảy bởi các nguyên nhân khác gây nên.
Thống kê cho thấy có khoảng 50% -70% trẻ uống sữa bị tiêu chảy nặng nhập viện có biểu hiện bất dung nạp đường Lactose.

Nhận biết việc trẻ bị bất dung nạp đường lactose
Các bà mẹ có thể nhận biết được bất dung nạp đường Lactose khi cho trẻ uống sữa bị đau bụng, đầy hơi, không muốn ăn, quấy khóc, tiêu chảy tăng lên, phân lỏng toàn nước chua hoặc có bọt, hậu môn đỏ. Khi cho trẻ ăn sữa không có lactose, các triệu chứng trên giảm rõ rệt, tiêu chảy cầm, phân đặc và giảm độ chua, trẻ chịu ăn và mau chóng khỏi tiêu chảy.

Làm gì khi trẻ bị bất dung nạp đường lactose
Vì những hậu quả của tiêu chảy do không dung nạp đường lactose, các bà mẹ cần phải khắc phục tình trạng này sớm nhất có thể và nuôi trẻ đúng cách khi trẻ bị tiêu chảy.
Nếu trẻ đang dùng sữa công thức thông thường, hoặc trong trường hợp trẻ nhỏ dưới 3 tháng, bị tiêu chảy kéo dài, hoặc trẻ có biểu hiện suy dinh dưỡng, có thể dùng các loại sữa không có đường lactose. Thành phần đường có thể là maltodextrin hoặc hỗn hợp đường đa có áp lực thẩm thấu thấp. Các thành phần đường này đã được chứng minh trên lâm sàng giúp trẻ tăng cân tốt hơn và phục hồi đường ruột nhanh hơn.

Cuối cùng, các bà mẹ cần nhớ khi trẻ bị tiêu chảy cần phải điều trị nguyên nhân gây bệnh và khắc phục hậu quả càng sớm càng tốt. Điều trị muộn là một l‎ý do kiến trẻ hay bị bất dung nạp đường lactose thứ phát, nên phòng ngừa là rất quan trọng.

Như vậy một trong những cách khắc phục hiện tượng này là CHO BÉ DÙNG LOẠI SỮA ĐẶC BIỆT CÓ LƯỢNG NHỎ ĐƯỜNG LACTOSE, cũng như các dưỡng chất giúp hệ tiêu hóa non nớt của bé dễ dàng hấp thu...